![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Bình
An Với Chúa |
|
|
|
LTS: Tòa
Soạn đã khởi đăng “Bình
An Với Chúa” (Peace With God) của Mục Sư Billy
Graham từ Thông Công số 155.
Chương 17 Tôi Có Phải Là Người Giữ Em Tôi Đâu! “Xin tha nợ chúng con, cũng như chúng con tha người mắc nợ chúng con.” Phúc Âm Ma-thi-ơ 6:31
Vì bạn đã quyết định theo Chúa Cứu Thế và đã khởi sự học Kinh Thánh, bạn thấy mình phải đương đầu với nhiều nan đề và bổn phận xã hội. Bạn đã giải hòa với Đức Chúa Trời, không còn ở trong thế chống đối và thù nghịch với Ngài nữa. Tội lỗi bạn đã được tha thứ. Những tư duy của bạn hướng về những chân trời mới và đó là những viễn cảnh mới của cuộc đời bạn. Thế giới quan của bạn hoàn toàn thay đổi. Bạn khởi sự nhìn người khác qua cặp mắt của Chúa Giê-xu. Những ý tưởng và những lý tưởng cũ cũng đổi thay. Những thành kiến bạn từng nắm chắc từ đầu nay khởi sự trôi tuột đi. Lòng ích kỷ trước đây từng là đặc điểm cá tính bạn ở nhiều lãnh vực của đời sống nay biến mất. Bỗng nhiên bạn hiểu ngay câu chuyện Ca-in, A-bên trong sách Sáng Thế Ký có nghĩa gì. Khi tự hỏi, “Tôi có phải là người giữ em tôi không?” Câu trả lời sẽ là, “Không, tôi không phải là người giữ em mà là anh ruột.” Nhiều người không muốn trở thành Cơ-đốc nhân vì hình ảnh Cơ-đốc nhân đã bị trình bày méo mó, tiêu cực thay vì tích cực. Họ bảo rằng tác phong Cơ-đốc chống lại mọi điều thoải mái, ích lợi. Họ bảo rằng Cơ-đốc nhân giống như một người đàn bà luôn miệng than rằng tất cả những cái đáng làm trong đời sống nếu không vô luân, bất hợp pháp thì lại hại cho sức khỏe! Trái với chuyện người đời tin, làm một Cơ-đốc nhân thật không có nghĩa là phải từ bỏ tất cả mọi lạc thú chân chính. Chỉ những lạc thú tội lỗi mới bị Đức Chúa Trời cấm và buộc chúng ta phải từ bỏ. Sự kiện chúng ta hoàn toàn chấp nhận Chúa Cứu Thế và quyết tâm để Ngài hướng dẫn theo ý muốn Đức Chúa Trời hầu như tức khắc kéo bạn đến nguồn mạch của lạc thú chân thật, là mối tương giao với Chúa Cứu Thế. Đối với bạn là một người chưa được tái sinh thì hiển nhiên điều này chẳng có gì vui thú, nhưng với người thực sự kinh nghiệm tương giao với Chúa Cứu Thế hàng ngày biết rằng niềm vui đó trổi vượt mọi sinh hoạt trần gian. Trong lời giới thiệu tuyển tập về George MacDonald, C.S. Lewis viết, “Ông dường như là một người ... ham vui, biết tận hưởng tất cả những điều tuyệt đẹp và tuyệt hảo có thể mua bằng tiền, nhưng cũng thỏa nguyện một cách sâu sắc khi không có những điều đó.” Còn chính George MacDonald thì viết: “Nếu có thể được, tôi muốn ngồi gần bên lò sưởi ấm áp trong mùa đông hay bên một bình hoa tươi trong mùa hè. Nhưng nếu không có, tôi vẫn nghĩ được như thế là quí, rồi quay qua vùi đầu vào công việc. Tôi không tin rằng thỏa lòng có nghĩa là khinh bỉ những gì mình không có.” Chính tác giả Thi Thiên cũng nói rằng, “Họ nhờ sự dư dật của nhà Chúa mà được thỏa nguyện; Chúa sẽ cho họ uống nước sông phước lạc của Chúa” (Thi-thiên 36:8). Đức Chúa Trời cũng phán rằng, “Đức Chúa Trời sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho những ai ăn ở ngay thẳng” (Thi Thiên 84:11b). Thánh Phao-lô bảo rằng, “Đức Chúa Trời là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng” (ITi-mô-thê 6:17). Chính mối tương giao với Chúa Cứu Thế sẽ giúp chúng ta có thể sống hiện thực. Lối sống theo Chúa Cứu Thế không đòi chúng ta phải từ bỏ những mối quan tâm và những ước vọng chính đáng. Kinh Thánh dạy rằng Chúa Cứu Thế có thể trở lại bất cứ lúc nào, nhưng Kinh Thánh cũng khuyên chúng ta phải tiếp tục nỗ lực làm việc bình thường cho đến ngày Ngài trở lại. Lấy thí dụ, không có gì sai đối với việc ăn, uống, cưới, gả trong thời Nô-ê. Tuy nhiên khi con người chỉ biết say sưa, chìm đắm trong những sinh hoạt này mà xao lãng hẳn khía cạnh thuộc linh thì đó là lối sống nguy hiểm, sai lầm (Lu-ca 17:26). Cũng không có gì sai trong thời Nô-ê khi người ta buôn bán, hoạch định, xây cất trừ phi họ sử dụng những phương cách tội lỗi gian tham (Lu-ca 17:28). Sai lầm cơ bản trong thời Nô-ê là con người đã coi tất cả những sinh hoạt nêu trên là mối quan tâm duy nhất trong đời. Họ không nghĩ đến điều gì khác ngoại trừ những vui thú riêng, tài sản riêng và việc thu gom, tích lũy lợi lộc vật chất. Họ đắm chìm trong vật chất cuộc đời đến nỗi không còn thì giờ nào dành cho Đức Chúa Trời. Thái độ này làm Chúa rất buồn lòng và Ngài chắc sẽ phải đoán xét những kẻ vi phạm. Như có người từng nói, “Kinh Thánh không được viết để khích lệ con người quan tâm nhiều hơn đến việc đời vì Kinh Thánh mặc nhiên cho rằng con người vốn đã có quá nhiều quan tâm đến thế gian rồi! Kinh Thánh nhắm đến việc khích lệ con người nhìn việc đời trong ánh sáng của sự việc thuộc linh có tầm quan trọng và giá trị lớn lao hơn.” Kinh Thánh dạy chúng ta phải chăm lo công việc hàng ngày và phải làm chu đáo. Chúa để chúng ta trong trần gian và giao công tác. Chúa dạy Cơ-đốc nhân không những phải làm việc, mà còn phải làm việc hết khả năng. Trong Kinh Thánh, Bết-sa-lê-ên được khen ngợi trong ngành thủ công làm đồ kim khí, đá và gỗ. Người thợ cả này được ban đầy dẫy Thánh Linh và tài năng: “Ta đã ban cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, sự khéo léo, tài năng và sự khôn ngoan để tạo ra những kiểu mẫu nghệ thuật trong các nghề vàng, bạc và đồng, để khắc và khảm ngọc, đẽo gỗ và làm được mọi thứ nghề thợ” (Xuất Ai-cập 31:3-5). Gia-cốp và các con chăn nuôi gia súc. Giô-sép làm thủ tướng. Đa-ni-ên là chính khách. Cả Giô-sép và Chúa Giê-xu là thợ mộc và một số các môn đệ khác là ngư phủ. Chúng ta cũng được biết hoạn quan Ê-thi-ô-pi phụ trách tài chánh cho nữ hoàng Can-đác; Ly-đi buôn gấm vóc; Phao-lô, Bê-rít-sin và A-qui-la làm nghề may trại và Lu-ca làm thầy thuốc. Hiển nhiên, lý tưởng Cơ-đốc không đòi một người phải từ bỏ mọi mối quan tâm đối với nghề nghiệp trong trần gian; trái lại, chúng ta tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời để có thể hết lòng hết sức làm việc mỗi ngày và để giữ cả công việc lẫn những ước vọng của chúng ta luôn luôn tùng phục Chúa là Đấng tích cực hỗ trợ chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Ngài giúp đỡ chúng ta, ban tài năng trong công việc và ban phước lạc cho cuộc sống. Trong một bài luận thuyết đầy hứng khởi, F.W. Boreham trích dẫn tiên tri Ê-sai rồi kể lại cách người thợ mộc Na-xa-rét đã khích lệ đám thợ bạc ở nhiều thời đại như thế nào. Nhiều tác giả nổi tiếng thế giới đã tìm được nguồn cảm hứng từ Giê-xu Na-xa-rét; những nghệ sĩ danh tiếng nhất, những nhạc sĩ, điều khắc gia cũng từng được soi sáng qua cuộc đời Chúa Cứu Thế. Chúa cũng giúp chúng ta đương đầu với những vấn đề xã hội và đây là chỗ làm chúng ta bối rối. Chính trong những công việc hàng ngày, cách chúng ta đương đầu với những nan đề xã hội chung quanh mà thế giới có thể thấy được Chúa Cứu Thế trong chúng ta. Như nhạc gia tôi là cố tiến sĩ L. Nelson Bell từng viết trong tạp san the Southern Presbyterian Journal như sau, “Những người thấy bạn trong nhà thờ sáng Chúa nhật biết ngay bạn là tín đồ. Nhưng còn những người bạn gặp trong tuần, ở nơi làm, ngoài đường phố, trong cửa tiệm và bao nhiêu nơi khác nữa thì sao? Việc chúng ta xưng nhận là Cơ-đốc nhân chính thống có chỗ riêng của nó. Chúng ta dự nhóm, tham gia vào các chương trình, các hoạt động trong nhà thờ là điều đương nhiên trong cuộc sống Cơ-đốc nhân. Nhưng như tất cả chúng ta đều biết, công việc làm ăn, những trách nhiệm với gia đình, những sinh hoạt hàng ngày, tất cả đều hợp lại trở thành một bài trắc nghiệm tính thực tại của kinh nghiệm và đức tin Cơ-đốc. Trong những tiếp xúc hàng ngày kia của chúng ta, người khác thấy gì? Liệu những người gặp chúng ta trong ngày thường có thể biết chúng ta là Cơ-đốc nhân không? Liệu những người mới gặp có nhận ra được điều gì trong chúng ta khiến họ thấy khác với những người không biết Chúa? Hiển nhiên, một trong những trắc nghiệm đúng nhất về tính nết Cơ-đốc nhân là qua đời sống thường nhật. Thực tại của việc xưng nhận mình là Cơ-đốc nhân được thể hiện bằng nhiều cách: qua những điều chúng ta nói hay không nói và qua những gì chúng ta làm hoặc không làm. Dù điều chính yếu trong Cơ-đốc giáo không phải là những cái bề ngoài, nhưng đạo Chúa thực sự được diễn đạt qua những câu đàm thoại, qua thói quen, trong cách giải trí, trong các mối quan tâm hay mong ước ghi nhận trong đời sống hàng ngày. Những câu chuyện chúng ta trao đổi có tôn cao Chúa Cứu Thế không? Những thói quen của chúng ta có phải là những thói quen được Ngài chấp nhận? Những thú giải trí, tiêu khiển của chúng ta có phải là những sinh hoạt Ngài có thể chứng kiến? Chúng ta có cúi đầu tạ ơn Chúa trước bữa ăn ở những nơi công cộng? Dựa trên cách chúng ta quan tâm đến của cải vật chất, người ta có thể biết lòng yêu mến gắn bó của chúng ta đặt vào những điều trên cao hay chủ yếu là vào trần thế? Người ta có thấy trong chúng ta tham vọng đối với một địa vị hay chức vụ nào không phù hợp với Cơ-đốc nhân? Chúng ta cần tự vấn bằng những câu hỏi này và nhiều câu khác, vì qua chính những điều đó người ta sẽ nhận định chúng ta có phải là Cơ-đốc nhân hay không.” Ít lâu sau khi nhạc gia tôi qua đời, nhà tôi thuê một người sửa sang lối đi trong gia trang trên núi. Một ngày kia trên đường ra phố, nhà tôi ghé thăm. Trong lúc nói chuyện, bất chợt ông ta hỏi, “Bà có phải là con gái Tiến sĩ Bell không?” Nhà tôi xác nhận, ông ta kêu lên đầy quí mến, “Ôi chao! Tôi chưa bao giờ gặp một người nào tin kính Chúa tốt như ông cụ!” Chúng ta có thái độ nào đối với những người khác chủng tộc? Thái độ đối với tính dục? Đối với những vấn đề quản lý lao động? Vấn đề phá thai? Thái độ coi những lệch lạc trái tự nhiên về tình dục là một lối sống phải được chấp nhận? Chúng ta phải có thái độ nào đối với cuộc sống lạm dụng rượu chè, cờ bạc cùng những nan đề tiềm sinh trong lối sống đó? Đây là những câu hỏi rất thực tiễn và rất thật cần phải được trả lời, thể hiện và sống trước những con người đồng thời của chúng ta. Nguyên tắc hướng dẫn mối liên hệ của chúng ta với thế giới xung quanh phải là điều Chúa Giê-xu dạy, “Các ngươi muốn người ta làm cho mình thể nào hãy làm cho người ta thể ấy” (Lu-ca 6:31). Nhiều người phê phán cái gọi là “tin lành xã hội,” nhưng Chúa Giê-xu lại dạy chúng ta phải đem tin lành cho thế giới. Thật ra không có cái gọi là “tin lành xã hội” đâu mà chỉ là gọi sai vì chỉ có một tin lành duy nhất như thánh Phao-lô khẳng định, “Nếu ai truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin Lành anh em đã nhận thì người ấy đáng bị Anathem!” Trong khi đó Thánh Phao-lô cũng viết trong I Ti-mô-thê 5:8 như sau, “Ví bằng có ai không săn sóc đến bà con mình, nhất là không săn sóc đến người nhà mình, ấy là người chối bỏ đức tin, còn xấu hơn người không tin nữa” (I Ti-mô-thê 5:8). Chính phủ liên bang Mỹ sẽ nhẹ gánh biết bao nhiêu nếu tất cả các Cơ-đốc nhân nhận trách nhiệm lo cho các nhu cầu của thân nhân! Franklin Graham - con của tiến sĩ Billy Graham, đã tích cực dấn thân trong công tác xã hội và hiện đứng đầu một cơ quan cứu trợ Cơ-đốc. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, người ta đã trích dẫn ông nói rằng, “rao giảng tin mừng luôn luôn phải là vấn đề ưu tiên.” Ông nhắc nhở các cơ quan phát triển và cứu trợ tin lành không được quên lãng nhu cầu đưa con người đến với Chúa Cứu Thế. Ông nói, “Mệnh lệnh cho Cơ-đốc nhân là rao giảng tin lành chứ không phải là hoạt động phát triển.” Ly nước lạnh phải đến sau, hoặc có khi đến trước, nhưng dù thế nào không nên dùng thay thế cho phúc âm (nghĩa là không nên dùng sự giúp đỡ vật chất thay thế cho việc rao giảng tin lành). Hơn tất cả mọi người khác, Cơ-đốc Nhân cần quan tâm đến những nan đề và những bất công xã hội. Suốt qua bao nhiêu thế kỷ, hội thánh đã đóng góp nhiều hơn bất cứ tổ chức hay cơ quan nào trong việc nâng những tiêu chuẩn xã hội lên những độ cao mới. Việc thuê mướn trẻ con làm việc đã bị cấm. Chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ ở Anh và Mỹ và một số nơi khác trên thế giới. Địa vị của phụ nữ đã được nâng lên đến mức độ chưa từng có trong lịch sử cũng như nhiều cải cách khác được thực hiện hầu hết là kết quả do ảnh hưởng những giáo huấn của Chúa Cứu thế Giê-xu. Cơ-đốc nhân cần thế chỗ Chúa Giê-xu trong xã hội, với lòng quả cảm về phương diện luân lý, đứng lên bênh vực cho điều phải, công lý và danh dự.
Làm Công Dân Tốt Trước hết: Cơ-đốc nhân phải là công dân tốt. Kinh Thánh dạy rằng Cơ-đốc nhân phải là người tuân giữ luật pháp, đồng thời là người trung thành với tổ quốc. Lòng trung thành và yêu mến quê hương không có nghĩa là chúng ta không được phê phán những điều luật bất công. Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời không vị nể bất cứ ai. Mọi người đều phải có những cơ hội bằng nhau. Chính quyền của Đức Chúa Trời phải là mẫu mực của chúng ta. Kinh Thánh cũng dạy rằng chúng ta phải cộng tác với nhà cầm quyền. Thánh Phao-lô khuyên Ti-mô-thê phải “khẩn nguyện, cầu xin, kêu van ... cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền...” (I Ti-mô-thê 2:1,2). Chúa Giê-xu từng hỏi, “Có nên nộp thuế không?” Rồi Ngài đã nêu một gương mẫu muôn đời bằng cách đóng thuế đầy đủ. Điều hành chính quyền, duy trì luật pháp và trật tự cần phải có tiền. Người trốn thuế là kẻ ăn bám xã hội và là một kẻ trộm đạo. Không một Cơ-đốc nhân chân chính nào lại là người trốn thuế. Chúa Giê-xu dạy chúng ta phải “trả lại cho Sê-sa những gì của Sê-sa” (Mác 12:17). Chúng ta cũng còn phải phải làm hơn là chỉ đóng thuế mà thôi. Chỉ là người tuân giữ luật pháp không chưa đủ, chúng ta cần tích cực làm việc và thực hiện những điều tốt cho đất nước. Đôi khi chúng ta được gọi để chết cho quê hương. Chúng ta phải tận tâm trong công việc, sống như những công dân gương mẫu. Chúng ta cần sống rộng rãi, giúp đỡ những người cùng túng, đóng góp cho những tổ chức trung tín, chân thật, trong việc phục vụ những người ở cảnh cơ hàn. Chúng ta cần tham gia những hoạt động đa dạng của các tổ chức từ thiện như Hội Hồng Thập Tự, Cứu Thế Quân, Hoàn Cầu Khải Tượng, Hầu Bao Sa-ma-ri (Samaritan’s Purse), Quĩ Nước Mắt, (The Tear Fund) và những tổ chức chân chính, đứng đắn, hữu dụng khác. Đồng thời, là những người phục vụ có trách nhiệm, chúng ta cần kiểm tra tính cách đáng tin và chân thật của những tổ chức từ thiện này để biết chắc rằng công tác cứu trợ được thực hiện đến nơi đến chốn. Cơ-đốc nhân cần quan tâm đến các cô nhi viện, nhà thương, trại tỵ nạn, nhà tù và những cơ quan xã hội. Chúa Giê-xu phán, “Hãy yêu người lân cận như mình” (Ma-thi-ơ 22:39). Bạn thử nghĩ đến một nước không có một tổ chức từ thiện nào! Chắc chắn không ai muốn sống ở đó. Tôi nhớ có lần đi thăm một nước trong đó có cả viện dưỡng lão của chính phủ và của giáo hội. Trong viện dưỡng lão Cơ-đốc chúng ta thấy tình thương được thể hiện, nhưng trong viện dưỡng lão công, việc săn sóc mang tính cách lạnh lùng, chiếu lệ. Vị bác sĩ làm việc ở cả hai nơi bảo rằng những cụ già sống ở nhà dưỡng lão Cơ-đốc không những vui vẻ, hạnh phúc hơn mà còn sống lâu hơn. Chúng ta thích sống nơi nào đầy ắp tình xóm giềng, chúng ta phải sống dấn thân trong cộng đồng và những người có trách nhiệm cần phải được tôn trọng, hỗ trợ và hợp tác. Kinh Thánh dạy rằng, “Mọi người phải vâng phục các Đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời : Các quyền đều là bởi Đức Chúa Trời chỉ định” (Rô-ma 12:1).
Hiếu Khách Thứ hai: Cơ-đốc nhân phải “ân cần tiếp khách” (I Ti-mô-thê 3:2). Kinh Thánh dạy rằng nhà chúng ta phải là nơi tiếp đãi khách và những người ra vào nhà chúng ta có thể cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Cứu Thế. Những gia đình Cơ-đốc hạnh phúc nhất tôi biết là những gia đình hiếu khách, là nơi xóm giềng thấy thoải mái, tự nhiên, nơi thanh niên được tiếp đãi, người lớn tuổi được kính trọng, và trẻ thơ được yêu mến. Điều đó có nghĩa là những gì Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đều được chia xẻ cho người khác và làm như vậy, Đức Chúa Trời sẽ ban phước tràn trề trên gia đình chúng ta.
Một Quan Điểm Đúng Đắn Về Tình Dục Thứ ba: Chúng ta phải có quan điểm Cơ-đốc đối với tính dục. Không một chỗ nào trong Kinh Thánh dạy rằng tính dục tự nó là tội lỗi, dù nhiều nhà giải kinh đã cố gắng tô vẽ như thế. Nhưng Kinh Thánh dạy rằng lạm dụng tính dục mới là tội lỗi. Quan hệ tính dục, là hành vi qua đó mọi đời sống trên thế giới được tạo thành, phải là một kinh nghiệm lạ lùng, đầy ý nghĩa và thỏa nguyện đối với con người. Tuy nhiên, con người với bản chất gian ác, tự hủy hoại, đã đem một sinh hoạt vinh hiển và toàn vẹn nhất nguyên thủy dành thể hiện tình yêu giữa hai người thành một điều thấp thỏi, tầm thường, nhớp nhúa. Tình dục nếu loại bỏ tất cả mọi cam kết, mọi yêu thương, tương kính và ước vọng sâu xa chân thành muốn đem vui sướng, thỏa nguyện cho người kia, sẽ chỉ còn là một hành động của thú vật, và đây là điều Kinh Thánh cảnh cáo bằng những lời khẳng định! Một điều rất hay đó là Kinh Thánh là một trong những cuốn sách nói thẳng hơn hết về đề tài tính dục. Kinh Thánh không cố ý mặc cho tính dục những khía cạnh đúng hoặc sai. Thái độ quỉ quyệt, úp mở, hổ thẹn, “làm bộ như tính dục không hiện hữu” hoàn toàn là thái độ do con người tạo ra. Để tránh biện pháp khó hiểu “tảng lờ không bàn đến tính dục,”nền văn minh của chúng ta ngày nay đã dùng phương cách nhấn mạnh khía cạnh máy móc của quan hệ tính dục, mà đề cập rất ít đến môi trường thiêng liêng là nơi phát sinh cách diễn đạt tình yêu nồng thắm, chan hòa của con người. Các phiên tòa xử ly hôn của chúng ta là bằng chứng bi thảm về sự bất năng của con người trong cố gắng đạt mối tương giao tươi đẹp, lâu bền mà không cần có nền tảng vững chắc là những giá trị thuộc linh. Tính dục là một phần của đời sống mà chúng ta dù muốn cũng không thể bãi bỏ, vì không có tính dục tất cả sự sống sẽ chấm dứt. Quan hệ tính dục, qua đó mọi sự sống trên địa cầu được duy trì, phải là kinh nghiệm kỳ thú đầy ý nghĩa của con người. Sử dụng đúng quan hệ tính dục sẽ đem vui thỏa cho gia đình. Sử dụng sai, nó sẽ biến gia đình thành địa ngục. Tính dục được sử dụng một cách khôn ngoan sẽ trở thành đầy tớ giỏi. Sử dụng sai lầm, nó sẽ thành một ông chủ tàn ác. Cơ-đốc nhân sẽ có một cảm giác buồn giận, một cảm giác vi phạm khi thấy tính dục được phơi bầy sỗ sàng trên các hàng tít lớn trong báo chí, được lợi dụng đưa vào quảng cáo và được dùng như một thứ mồi rẻ tiền bên ngoài các rạp hát. Cơ-đốc nhân cảm thấy xấu hổ cho đồng loại của mình khi thấy họ quá ngu dại, thô thiển, tục tằn khi làm dơ nhớp, làm méo mó một hành vi được phú ban cho mọi loài sống.
Một Quan Điểm Cơ-đốc Về Hôn Nhân Thứ tư: điều tự nhiên là những ai chấp nhận quan điểm Cơ-đốc về tính dục cũng sẽ chấp nhận quan điểm Cơ-đốc về hôn nhân. Trước khi bạn bước vào hôn nhân hãy xem xét những mối liên hệ thuộc linh làm cho cuộc hôn nhân trên đất được kết chặt trên thiên đàng. Dần hồi trong tiến trình trưởng thành, chúng ta học biết yêu thương, trước hết là cha mẹ, bạn bè và sau này là một người chia xẻ cuộc đời với chúng ta. Chúng ta đã biết tiến trình này khó khăn như thế nào, vì điều đến với một tội nhân chưa tái sinh một cách tự nhiên chính là dục vọng chứ không phải tình yêu chân thật. Nhiều người đã ôm nỗi bất hạnh kinh khủng khi chọn bạn đời giữa lúc đang lăn lộn trong những lao nhọc của trần gian, của xác thịt và ma quỉ, trong khi đối tượng họ chọn lại cũng ở trong tình trạng tương tự. Cho nên đối với những cuộc hôn nhân kết hợp giữa hai linh hồn không có ý thức thuộc linh, là những người hầu như không thể có được tình yêu chân chính, lâu dài, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy quá nhiều trường hợp kết thúc ở những phiên tòa ly hôn. Hôn nhân là một kết hợp thánh vì nó cho phép hai người giúp nhau thực hiện số phận thuộc linh tương lai. Đức Chúa Trời tuyên bố hôn nhân là tốt lành vì Ngài biềt người nam cần người giúp đỡ và người nữ cần người bảo vệ. Ngài muốn tất cả mọi người chồng và vợ không bao giờ được phép quên lãng mục tiêu nguyên thủy này của hôn nhân. Vai trò người vợ là yêu thương, giúp đỡ, hỗ trợ chồng trong mọi cách khả thi cũng như vai trò người chồng là yêu thương, bảo vệ và cấp dưỡng vợ, con để gia đình được hòa hợp, đầy ắp bình an của Đức Chúa Trời. Cả vợ lẫn chồng đều phải cùng tùng phục nhau, cùng yêu thương nhau. Những người bước vào hôn nhân với hiểu biết thật rõ ràng mục đích và những qui luật của Đức Chúa Trời cho hôn nhân không bao giờ cần phải ra tòa ly hôn. Những cuộc hôn nhân nào thiếu những điều kiện lý tưởng này cần trước hết học biết Đức Chúa Trời mong đợi những gì nơi vợ, nơi chồng, cùng cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ và hướng dẫn trong việc thực hiện mạng lệnh của Ngài. (còn tiếp) Billy
Graham Peace
With God |
|
|
|